Giới hạn vô cực và tại vô cực

Kéo x ra thật xa để thấy đồ thị áp vào tiệm cận ngang; hoặc kéo x lại sát điểm chặn để thấy f(x) lao tới ±∞ dọc tiệm cận đứng.

6.00
x = 6.00 f(x) = 0.17

💡 Tiệm cận ngang: x ra xa, f(x) áp vào một đường ngang. Tiệm cận đứng: x sát điểm chặn, |f(x)| lớn vô hạn.

Thấy hay? Chia sẻ cho bạn bè: f Facebook 𝕏 X

Hai loại giới hạn liên quan tới vô cực

Ở lớp 11 (bộ sách Kết nối tri thức) ta gặp hai tình huống. Giới hạn tại vô cực xét khi biến x tiến ra +∞ hoặc −∞; nếu f(x) tiến tới một số hữu hạn L thì đường thẳng y = L là tiệm cận ngang. Giới hạn vô cực là khi biến x tiến tới một điểm hữu hạn x₀ nhưng giá trị f(x) lại tăng (hoặc giảm) không giới hạn tới +∞ hoặc −∞; khi đó đường thẳng đứng x = x₀ là tiệm cận đứng.

Các bước quan sát trong game

  1. Chọn hàm mẫu: 1/x (có cả tiệm cận ngang y = 0 và tiệm cận đứng x = 0), x² (không có tiệm cận, tiến ra +∞), hoặc 1/(x − 1) (tiệm cận đứng x = 1).
  2. Kéo x ra xa hoặc bấm x → +∞ / x → −∞: nhìn f(x) áp vào đường ngang (nếu có).
  3. Kéo x lại gần điểm chặn hoặc bấm x → điểm chặn: thấy |f(x)| lớn dần vô hạn dọc theo tiệm cận đứng.
  4. Đọc bảng số: theo dõi f(x) tiến tới L (giới hạn tại vô cực) hay tiến ra ±∞ (giới hạn vô cực).

Vì sao 1/x tiến tới 0 khi x ra xa?

Với f(x) = 1/x, khi x càng lớn thì mẫu số càng lớn, nên phân số 1/x càng nhỏ và bám sát 0 nhưng không bao giờ bằng 0 — đó là tiệm cận ngang y = 0. Ngược lại, khi x tiến tới 0 từ bên phải, 1/x lớn dần tới +∞; từ bên trái, 1/x giảm tới −∞. Đường x = 0 là tiệm cận đứng. Một hàm có thể có cả hai loại tiệm cận cùng lúc, như 1/x cho thấy.

Quy tắc dấu khi tính giới hạn vô cực

Khi tính giới hạn vô cực của một phân thức, mẹo cốt lõi là xét dấu của tử và mẫu ở lân cận điểm chặn. Với 1/(x − 1) khi x → 1: tử luôn dương (bằng 1), còn mẫu (x − 1) đổi dấu qua điểm 1. Nếu x tiến tới 1 từ phía lớn hơn (x = 1,001; 1,0001; …) thì mẫu là số dương rất nhỏ nên f(x) → +∞; nếu x tiến tới 1 từ phía nhỏ hơn (x = 0,999; 0,9999; …) thì mẫu là số âm rất nhỏ nên f(x) → −∞. Vì hai phía cho hai kết quả trái dấu, ta nói giới hạn hai bên không tồn tại như một số, nhưng vẫn mô tả được từng phía. Với giới hạn tại vô cực của một phân thức đa thức, ta chia tử và mẫu cho luỹ thừa cao nhất của x rồi cho x → ∞: mọi số hạng chứa 1/x, 1/x², … triệt tiêu về 0, chỉ còn tỉ số các hệ số bậc cao nhất. Chẳng hạn (2x + 3)/(x − 5) → 2 khi x → +∞, nên y = 2 là tiệm cận ngang. Đây là kĩ thuật thường gặp trong đề thi lớp 11.

Ứng dụng thực tế

Giới hạn vô cực và tiệm cận xuất hiện khi:

Khám phá thêm