Công thức xác suất toàn phần

Chia không gian mẫu theo biến cố B và biến cố đối , rồi cộng xác suất của mọi đường dẫn tới A. Kéo các thanh trượt để xem cây xác suất và kết quả thay đổi.

0.60
0.70
0.30
P(A) = 0.540

💡 Đường trên: P(B)·P(A|B). Đường dưới: P(B̄)·P(A|B̄). Cộng hai đường được P(A) — xác suất lấy được bi đỏ.

Thấy hay? Chia sẻ cho bạn bè: f Facebook 𝕏 X

Công thức xác suất toàn phần là gì?

Đôi khi ta không tính trực tiếp được xác suất của biến cố A, nhưng lại biết A xảy ra dễ hay khó tuỳ theo một biến cố khác B có xảy ra hay không. Khi đó ta chia không gian mẫu thành hai phần rời nhau là B và biến cố đối B̄, rồi cộng đóng góp của từng phần vào A.

Công thức: P(A) = P(B)·P(A|B) + P(B̄)·P(A|B̄). Trong đó P(A|B) là xác suất của A khi biết B đã xảy ra (xác suất có điều kiện).

Cây xác suất hai nhánh

  1. Vẽ hai nhánh gốc: một nhánh B (ví dụ chọn Hộp 1) với xác suất P(B), nhánh kia B̄ (chọn Hộp 2) với xác suất P(B̄)=1−P(B).
  2. Từ mỗi nhánh rẽ tiếp tới A (lấy được bi đỏ) với xác suất có điều kiện P(A|B) hoặc P(A|B̄).
  3. Nhân dọc theo mỗi đường: được P(B)·P(A|B) và P(B̄)·P(A|B̄).
  4. Cộng ngang hai đường dẫn tới A → được P(A).

Vì sao lại cộng hai đường?

Vì B và B̄ không giao nhau và phủ kín không gian mẫu, biến cố A được tách thành hai phần rời nhau: A∩BA∩B̄. Xác suất của mỗi phần chính là tích dọc theo nhánh cây. Do hai phần rời nhau, cộng chúng lại được đúng P(A). Đó cũng là lý do tổng hai nhánh gốc P(B)+P(B̄) luôn bằng 1.

Ứng dụng thực tế

Xác suất toàn phần xuất hiện khi:

Khám phá thêm